Thủ thuật, hacking, tool, code, công cụ hiện đại

Thủ thuật, hacking, tool, code, công cụ

chia sẻ

Đào tạo nhà phân phối tích cực

Kiến thức: Đào tạo các chuyên đề:


  1. Tiến hành cuộc gặp như thế nào
  2. Lập kế hoạch làm việc
  3. Hệ thống làm việc với người mới
  4. Promotion
  5. Sự kiện - như một phần của hệ thống
  6. Xử sự với các ý kiến phản đối như thế nào
  7. Các sai lầm của distributor trong công việc
  8. Hệ thống làm việc tại  địa  phương  mới
  9. Người đỡ đầu và nhánh đỡ đầu
  10. Làm việc theo đội ngũ
  11. Quan hệ cá nhân
  12. Hệ thống “1+1”
  13. Hệ thống sao chép doanh ngiệp
  14. Danh hiệu Star
  15. Chuẩn bị và tiến hành buổi giới thiệu
  16. Chương trình, đán của Công ty
  17. Cơ sở xây dựng mạng lưới
  18. Ngôn ngữ cử chỉ
  19. Phương pháp và hình thức làm việc
  20. Niềm tin
  21. Tăng trưởng nhân cách và hoàn thiện bản thân
  22. Thông tin lan truyền trong mạng lưới
  23. Các tấm gương thành công
  24. Quy tắc vàng trong kinh doanh theo mạng
  25. Hưng phấn
  26. Khích lệ - con đường dẫn đến thành công
  27. Luân lý của công ty
  28. Suy nghĩ tích cực
Kỹ năng: Các quy trình huấn luyện
 
  1. Quy trình về  Xác định mục đích và các giá trị.
  2. Quy trình về  Lập kế hoạch làm việc 90 ngày đầu tiên.
  3. Quy trình về  Bán sản phẩm.
  4. Quy trình về  Thiết lập nhóm tiêu dùng và Theo dõi và chăm sóc khách hàng.
  5. Quy trình về  Làm việc với câu hỏi và ý kiến phản đối.
  6. Quy trình về  Tuyển người.
  7. Quy trình về  Hướng dẫn người mới vào việc.
  8. Quy trình về  Tổ chức sinh hoạt tại nhà.
  9. Quy trình về  Lập kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
  10. Quy trình về  Tạo công cụ làm việc

4 câu hỏi quyết định để đạt được thành công đỉnh cao trong Kinh doanh theo mạng

1. Tại sao Bạn lại quyết định làm việc trong Kinh doanh theo mạng ( Tại sao bạn lại chọn Công ty này?)
Đây là câu hỏi quan trọng số 1 Bạn cần trả lời, câu hỏi này sẽ chiếm đến 90% sự thành công của Bạn. Rất nhiều người quyết định làm việc trong Kinh doanh theo mạng bởi các yếu tố tương tự như sau:
- Thấy hay hay
- Được giao tiếp với nhiều người
- Có nhiều Bạn bè
- Thấy môi trường chuyên nghiệp
- Thấy người khác kiếm được tiền
- Thấy người khác thành đạt và họ cũng muốn được như vậy
- Được tư do làm việc (với một số người rất thích điều này mặc dù không kiếm được đồng nào)
- Được người khác quan tâm và khen ngợi...
- Nói tóm lại là họ thấy thích thích...
Phần lớn mọi người quyết định làm việc trong Kinh doanh theo mạng là do thấy thích và họ sẽ nhanh chóng cảm thấy thất vọng khi 6 tháng, 1 năm trôi qua mà gần chỉ đạt được các giá trị ảo.

Quá trình nhận thức của con người sẽ diễn ra theo quy trình như sau:
Nghe, quan sát - Biết - Hiểu - Tin  - Yêu - Đam mê
Phần lớn mọi người tham gia Kinh doanh theo mạng dừng lại ở trạng thái "Nghe" và "Biết" và "Quan sát". Nhà kinh doanh theo mạng vĩ đại John Kalench nói: " Để thành công trong Kinh doanh theo mạng thì không có cách nào khác là Bạn phải yêu nó", vậy làm thế nào để có tình yêu với Kinh doanh theo mạng? John Milton Fogg Bậc thầy trong Kinh doanh theo mạng đã nói: "Để có tình yêu với Kinh doanh theo mạng Bạn cần phải hiểu và tin". Vậy bạn cần hiểu gì và tin gì?
- Hiểu và tin vào ngành kinh doanh theo mạng
- Hiểu và tin vào Công ty mà Bạn làm việc
- Hiểu và tin vào sản phẩm
- Hiểu và tin vào người Bảo trợ của Bạn
- Cần tin vào chính bản thân Bạn

2. Bạn muốn đạt được điều gì trong Kinh doanh theo mạng?
Hay bạn muốn đạt được điều gì trong suốt phần đời còn lại của mình trong Kinh doanh theo mạng và Công ty mà Bạn lựa chọn? Trả lời câu hỏi này có nghĩa là Bạn đã xác định mục đích cụ thể và chính xác của mình

3. Bạn thực hiện điều đó như thế nào?
Trả lời câu hỏi này có nghĩa là Bạn đã có kế hoạch chi tiết để thực hiện mục đích của mình.

4. Bạn sẽ thực hiện kế hoạch đó cùng với ai? và ai sẽ thực hiện điều đó cùng với Bạn
Trả lời câu hỏi này có nghĩa là Bạn đã hiểu rõ sức mạnh ĐÒN BẨY của Kinh doanh theo mạng.
Trong các chương trình đào tạo hệ thống, chúng tôi sẽ chia sẻ chi tiết hơn cho bạn các câu hỏi 2, 3 và 4
 

Cho người nước ngoài mua nhà: Sợ gì mà ngập ngừng?

Tiến sĩ Võ Đại Lược, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới, cho rằng: “Thật khó hiểu khi trong thời đại toàn cầu hóa như thế này mà chúng ta vẫn còn lạc hậu đến mức không cho người nước ngoài (NNN) vào mua nhà của mình. Muốn "giải cứu" thị trường BĐS hiện nay, không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước. Chính phủ nên có thể chế cho phép NNN vào mua nhà tự do tại Việt Nam.
Thí điểm – nhiều bất cập
Trước đòi hỏi từ nhu cầu thực tế của phát triển hội nhập, năm 2008, Quốc Hội đã ra nghị quyết về việc thí điểm cho tổ chức cá nhân nước ngoài mua nhà, sở hữu nhà tại VN trong thời hạn 5 năm. Một năm sau đó, Chính phủ có Nghị định 51 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết này.
Tuy nhiên, sau 5 năm thí điểm, đến nay, chính sách đã bộc lộ rõ những hạn chế mà điển hình là việc bó hẹp đối tượng được mua nhà, thủ tục rườm rà và chỉ được mua nhà để ở. Chính bởi những bất cập này mà đến nay, mới chỉ có gần 500 NNN được mua nhà, trong đó đa phần là người Việt Nam có quốc tịch nước ngoài (không đủ điều kiện thủ hưởng chính sách cho Việt kiều sở hữu nhà).
Theo các chuyên gia, sự hạn chế này đã khiến Việt Nam lãng phí một nguồn lực rất lớn để phát triển thị trường BĐS. TS Trần Minh Hoàng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP BĐS Việt Nam phân tích: BĐS là loại tài sản có giá trị rất lớn, do đó việc được pháp luật bảo vệ quyền sở hữu và định đoạt đối với tài sản là BĐS là yếu tố rất quan trọng để người có nhu cầu hoặc nhà đầu tư quyết định rót vốn đầu tư phát triển dự án BĐS hoặc mua nhà ở.
nhà đất, giải cứu, nguồn lực, BĐS, nước ngoài
 Với thị trường BĐS Việt Nam, quyền sở hữu nhà ở còn có rất nhiều giới hạn đối với NNN và Việt kiều. Do đó, sự phát triển của thị trường bị hạn chế rất nhiều về sức mua, nhất là đối với những dự án hướng đến khách hàng là các đối tượng này như nhà ở cao cấp, dự án BĐS nghỉ dưỡng...
Ông Satmad Zok, một nhà tư vấn kinh doanh người Ả Rập đã có 8 năm làm việc ở Việt Nam chia sẻ, ông vẫn còn ngại ngùng khi quyết định mua một căn nhà tại Việt Nam, mặc dù “Theo quy định tôi có đủ điều kiện để sở hữu căn hộ, nhưng thủ tục mua bán nhà rất rắc rối nên việc đứng tên sở hữu căn nhà không phải đơn giản. Người Việt Nam mua thủ tục đã khó huống hồ NNN chúng tôi.”.
Trước nhận định Nghị quyết 19 đã bó hẹp nhu cầu về sở hữu nhà khi có những quy định khá “rắn” và cứng nhắc, Thứ trưởng bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam cũng thừa nhận: “Lâu nay mình quá chặt chẽ cứ sợ vấn đề này vấn đề kia nên chỉ giới hạn thôi, bởi vậy chính sách này không vào được cuộc sống.. Thế giới hội nhập, dân mình vác tiền sang nước ngoài mua nhà ở, trong khi NNN sang Việt Nam mua lại không được”.
Nên theo xu hướng thế giới
Trong năm nay, Nghị quyết 19 về thí điểm cho tổ chức cá nhân nước ngoài mua nhà, sở hữu nhà tại VN sẽ hết thời hiệu. Ngay từ đầu năm, Chính phủ cũng đã chỉ đạo Bộ Xây dựng tiến hành tổng kết, rút kinh nghệm về chính sách thí điểm này đồng thời có chủ trương trình Quốc hội cho phép thực hiện theo mở rộng đối tượng và tạo thuận lợi hơn về điều kiện mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Về phía mình, Bộ Xây dựng còn có tư duy sửa đổi hơn khi dự kiến trình phương án theo hướng không chỉ giới hạn NNN đang làm việc sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mà còn mở rộng ra với những NNN có nhu cầu và hướng họ vào phân khúc nhà giá cao.
Quan điểm này lập tức được các chuyên gia kinh tế, BĐS đánh giá rất cao. TS. Võ Đại Lược, phân tích, về ngắn hạn, việc Nhà nước mở rộng cửa cho NNN mua nhà là một kênh “giải cứu” bằng chính sách rất tốt và đúng hướng. Ông tin tưởng Nhà nước sẽ tiếp tục cho phép NNN mua nhà nhưng vấn đề tiếp theo sẽ là thủ tục thế nào.
nhà đất, giải cứu, nguồn lực, BĐS, nước ngoài
 Nếu tiếp tục khó khăn thì sẽ không giải quyết vấn đề gì. Còn nếu thủ tục dễ dàng thì đây sẽ là có hội cho thị trường BĐS. Ông ví, thủ tục cũng giống như một "cái khóa" để chính phủ Việt Nam để điều tiết thị trường. “Chính phủ nên có thể chế mở rộng, cho phép NNN vào mua nhà tự do tại Việt Nam…
Ở Mỹ người ta còn bán cả cái cảng cho NNN thì tại sao người Việt cứ lo bị thâu tóm? Họ muốn thâu tóm tài sản thì cũng phải đổ tiền vào mình chứ. Số lượng tiền đấy ta có thể dùng vào nhiều việc khác có lợi hơn rất nhiều. Thật khó hiểu khi trong thời đại toàn cầu hóa như thế này mà chúng ta vẫn còn lạc hậu đến mức không cho NNN vào mua nhà của mình.”, TS. Lược khích lệ.
Thạc sĩ Vũ Nhật Minh, một chuyên gia nghiên cứu, tư vấn chính sách BĐS cũng cho rằng: Nhiều quốc gia phát triển như Tây Ban Nha, Mỹ, Australia, các nước vùng vịnh, thậm chí là Singapore, Hồng Kông (nơi diện tích đất đai rất eo hẹp)… đều hết sức cởi mở và khuyến khích NNN sở hữu nhà ở tại đất nước của họ, và họ hiểu sâu sắc việc sở hữu nhà ở của NNN không những không làm mất cơ hội mua nhà của người trong nước mà trái lại còn thúc đẩy, tạo công ăn việc làm và tăng cơ hội sở hữu nhà cho người trong nước.
Việc hạn chế các đối tượng thực sự có khả năng chi trả đầu tư và sở hữu BĐS đang gây ra sự lãng phí rất lớn cho việc sử dụng tài nguyên đất đai một cách hiệu quả, làm giảm tính thanh khoản, sức hấp dẫn thu hút đầu tư của ngành BĐS nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Từng có nhiều năm sinh sống và làm việc ở nước ngoài, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành khẳng định: “Hầu khắp các quốc gia đã hội nhập trên thế giới này đều có chính sách cho NNN mua nhà một cách cởi mở.Việt Nam không nên là ngoại lệ. Ở đây đừng sợ phát sinh tiêu cực, chúng ta còn có những quy định pháp luật khác để ràng buộc về mặt trật tự an toàn xã hội, an ninh, quốc phòng. Vấn đề quan trọng lúc này là cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích NNN cho đối tượng mua nhà”.
Theo nhìn nhận của nhiều chuyên gia, nếu một cơ chế thông thoáng cho NNN mua nhà được thông qua, trong vài năm tới sẽ có hàng chục nghìn căn hộ chung cư cao cấp tại Việt Nam được bán cho người nước ngoài, bao gồm trước hết những NNN đang sinh sống, kinh doanh, làm việc tại Việt Nam, thân nhân và bạn bè của họ.
Đối tượng mua có thể từ Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản và nhiều nước khác. Vốn thu hồi từ việc bán căn hộ chung cư cho NNN chắc chắn sẽ tạo cú hích để góp phần phục hồi thị trường BĐS Việt Nam, qua đó giảm bớt được khó khăn cho ngân hàng và một số ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, chính sách cũng sẽ là minh chứng, thể hiện sinh động quan điểm hội nhập toàn diện, cởi mở của Đảng – Nhà nước Việt Nam.
PV

Lịch sử ngành kinh doanh hệ thống - Kinh doanh theo mạng

Kinh doanh theo mạng là gì?

Network Marketing, tại Việt nam thuật ngữ này được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau nhau như "Kinh doanh theo mạng", "Kinh doanh đa cấp", "Bán hàng đa cấp" "Tiếp thị đa tầng"...


Network Marketing, tại Việt nam thuật ngữ này được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau nhau như "Kinh doanh theo mạng", "Kinh doanh đa cấp", "Bán hàng đa cấp" "Tiếp thị đa tầng"... dùng để chỉ một phương thức bán hàng có tên gọi là bán hàng trực tiếp(Direct Selling Activity - DSA). Trong đó, việc lưu hành, bán và phân phối sản phẩm (nói cách khác là tiêu thụ hàng hóa) được thực hiện qua một cơ cấu nhiều tầng bao gồm những cá nhân riêng biệt hoạt động độc lập.


Những cá nhân này không phải là nhân viên của công ty, mà là đối tác phân phối hàng hoá cho công ty. Họ là các doanh nhân kinh doanh độc lập, giới thiệu sản phẩm tới những khách hàng và nhờ đó, họ có khoản thu nhập nhất định. Ngoài ra, họ còn giúp đỡ những người khác cùng tham ra doanh nghiệp MLM, huấn luyện người này cách xây dựng mạng lưới phân phối viên của riêng mình. Mạng lưới đó thường được gọi là downline (tuyến dưới).


Trong "Nghị định về giám sát hoạt động bán hàng đa cấp" do Chính phủ Việt nam ban hành, tại Điều 2 đã định nghĩa: "Bán hàng đa cấp là một phương thức tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thông qua nhiều cấp khác nhau, trong đó người tham gia sẽ được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hóa của mình và của người khác trong mạng lưới do người đó tổ chức ra và được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận."


Lịch sử của ngành kinh doanh qua mạng


Sự ra đời của ngành Kinh doanh theo mạng(Network Marketing) gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Karl Renborg (1887-1973). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng ý tưởng MLM vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh doanh được gọi là có triển vọng nhất trong thế kỷ 21.

Karl Renborg có thời gian 20 năm sống tại Trung Quốc và làm việc tại nhiều công ty khác nhau. Giữa những năm 1920-1930 ông và một số người nước ngoài khác bị bắt khi chính quyền thuộc về tay Tưởng Giới Thạch. Trong điều kiện sống rất thiếu thốn, ông đã nhận thấy vai trò của dinh dưỡng đối với sức khỏe con người. Để khắc phục điều kiện sống thiếu dinh dưỡng, Renborg đã tìm ra phương pháp cạo sắt từ những chiếc đinh rỉ cho vào khẩu phần ăn dành cho người tù và thỏa thuận với cai tù để xin các loại rau cỏ khác nhau bổ xung vào khẩu phần ăn hàng ngày. Ông và một số ít bạn tù làm theo phương pháp này nên có sức đề kháng tốt hơn và sống sót được đến ngày trở về quê hương.

Năm 1927 Ông Renborg về Mỹ và bắt đầu chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng khác nhau dựa trên cỏ linh lăng là một loại cỏ có chứa rất nhiều vitamin, khoáng chất, đạm và nhiều thành phần có ích khác. Ông đề nghị những người quen của ông thử nghiệm miễn phí sản phẩm nhưng ông đã thất bại, không ai dám dùng thử vì họ không muốn mình làm vật thí nghiệm. Sau nhiều cố gắng mà không đem lại được kết quả, ông hiểu ra rằng chẳng ai chịu đánh giá tốt những thứ cho không, vì vậy ông đã đưa ra một ý tưởng và ngày nay ý tưởng đó đã phát triển thành một ngành kinh doanh với doanh thu hàng tỷ đô la.

Ông Renborg đề nghị các bạn của ông giới thiệu chất bổ sung dinh dưỡng này cho người quen của họ, còn nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông hứa sẽ trả hoa hồng. Ông cũng quyết định trả hoa hồng cho các người quen của bạn mình nếu giới thiệu sản phẩm tiếp theo quan hệ của họ.


Kết quả thật bất ngờ: thông tin về các chất bổ sung dinh dưỡng có lợi bắt đầu được truyền bá rộng rãi (vì mỗi người bạn của ông lại có nhiều người bạn khác và bạn của bạn của bạn là vô hạn). Doanh thu bán hàng của công ty tăng vượt quá sức tưởng tượng, mọi người đề nghị gặp ông để tham khảo về thông tin sản phẩm mới này.


Năm 1934 ông Karl Renborg sáng lập ra công ty "Vitamins California" và nhờ phương pháp phân phối hàng mới này, khi người tiêu dùng cũng trở thành người truyền bá sản phẩm (Distributor - Nhà phân phối độc lập), công ty của ông đã nhanh chóng đạt doanh số 7 triệu USD mà không hề mất một đồng quảng cáo nào. Sự độc đáo ở chỗ nhờ tiết kiệm được chi phí quảng cáo và các khâu trung gian (đại lý bán buôn, bán lẻ, kho bãi...) nên những người tham gia vào hệ thống của ông có thể nhận được thù lao cao hơn.


Cuối năm 1939 đầu 1940 ông Renborg đổi tên công ty thành "Nutrilite Products" theo tên sản phẩm và vẫn giữ nguyên phương pháp tiêu thụ. Những công tác viên của ông tự tìm người mới, chỉ cho người mới đầy đủ thông tin về sản phẩm và dạy cho người mới phương pháp xây dựng mạng lưới bắt đầu từ những người quen của mình. Công ty đảm bảo cho tất cả nhà phân phối độc lập có đủ sản phẩm và nhận hoa hồng không chỉ lượng sản phẩm họ bán ra mà còn trả hoa hồng cho lượng sản phẩm được bán ra bởi những người do họ trực tiếp tìm ra.


Những người tham gia mạng lưới của công ty nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của người bảo trợ. Phương pháp phân phối hàng của ông Renborg chính là khởi điểm của ngành Kinh doanh theo mạng, ở đây ông chỉ mới áp dụng một tầng, và trong nhiều tài liệu thì năm 1940 là năm khởi đầu của MLM và Renborg được coi là ông tổ của ngành kinh doanh này.


Lịch sử tiếp theo của Kinh doanh theo mạng(Network Marketing) gắn liền với tên tuổi của hai cộng tác viên của "Nutrilite Products" là Rich De Vos và Jey Van Andel. Sau một thời gian làm việc có hiệu quả với công ty "Nutrilite Products" hai ông đã nhận thấy sức mạnh to lớn của Multi Level Maketing(MLM)/Network Marketing và đã sáng lập ra công ty riêng của mình mang tên "American Way Corporation", viết tắt là Amway và hiện nay Amway đã trở thành một công ty hàng đầu thế giới trong ngành MLM với chi nhánh trên 125 nước trên toàn thế giới.


Lịch sử tiếp theo của Kinh doanh theo mạng(Network Marketing) gắn liền với tên tuổi của hai cộng tác viên của "Nutrilite Products" là Rich De Vos và Jey Van Andel. Sau một thời gian làm việc có hiệu quả với công ty "Nutrilite Products" hai ông đã nhận thấy sức mạnh to lớn của Multi Level Maketing(MLM)/Network Marketing và đã sáng lập ra công ty riêng của mình mang tên "American Way Corporation", viết tắt là Amway và hiện nay Amway đã trở thành một công ty hàng đầu thế giới trong ngành MLM với chi nhánh trên 125 nước trên toàn thế giới.


Vào những năm đầu của thập niên 70, MLM chịu nhiều sức ép lớn. Năm 1975 trong hội đồng liên bang Hoa Kỳ có những người phản đối MLM và quy kết MLM với hình tháp ảo là hình thức bất hợp pháp bị cấm tại Hoa Kỳ. Đây là đòn đánh đầu tiên của chính phủ vào MLM. Bắt đầu cuộc chiến của các công ty MLM để khẳng định chân lý, tính đúng đắn của mình. Công ty Amway đứng mũi chịu sào, suốt bốn năm liền hầu tòa từ năm 1975-1979. Cuối năm 1979 toà án thương mại liên bang hoa kỳ công nhận phương pháp kinh doanh của Amway không phải là hình tháp ảo và được chấp nhận về mặt luật pháp. Từ đó Bộ luật đầu tiên về MLM đã ra đời tại Mỹ.


Richard Poe, phóng viên của báo Success - một tờ báo rất nổi tiếng tại Mỹ- Trong cuốn: "Làn sóng thứ ba-Kỷ nguyên của MLM" đã chia MLM ra làm các thời kỳ:


Làn sóng thứ nhất (Thời kỳ thứ nhất) là thời kỳ bắt đầu hình thành của ngành MLM: từ 1940 cho đến năm 1979 chỉ có khoảng 30 công ty MLM ra đời tại Mỹ.


Làn sóng thứ II (Thời kỳ thứ hai): từ 1979 - 1990 là thời kỳ bùng nổ của MLM. Mỗi đêm ngủ dậy có hàng trăm công ty MLM bố cáo thành lập với đủ loại sản phẩm và sơ đồ kinh doanh. Đây là thời kỳ phát triển và chọn lọc tự nhiên.


Làn sóng thứ III (Thời kỳ thứ ba): Từ 1990 trở đi, nhờ tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông, MLM đã mang màu sắc mới. Các nhà phân phối độc lập có thể đơn giản hóa công việc của mình nhờ vào điện thoại, điện đàm, hội thảo vô tuyến, internet và nhiều phương tiện khác. Nếu như ở làn sóng thứ II, những nhà phân phối độc lập giỏi phải là nhà hùng biện và họ phải đi lại như con thoi đến các mạng lưới thì ở làn sóng thứ III, bất cứ ai cũng có thể sử dụng thời giờ nhàn rỗi của mình để tham gia MLM. Hàng ngàn công ty đã áp dụng MLM để truyền bá sản phẩm của mình. Các công ty áp dụng phương pháp bán hàng truyền thống như Ford, Colgate, Canon, Coca-cola và nhiều công ty nổi tiếng khác đã bắt đầu áp dụng phương pháp MLM để phân phối những mặt hàng độc đáo của mình.


Một số thống kê:


· Trên thế giới có hơn 30.000 công ty phân phối hàng theo mô hình MLM. Doanh số toàn ngành MLM đạt hơn 400 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 20% - 30%.


· Mỹ: hiện có 2.000 công ty hoạt động và cứ mười gia đình thì có một người làm trong ngành MLM chiếm khoảng 15% dân số, có 500.000 người trở thành triệu phú nhờ MLM.


· Nhật bản: 90% hàng hoá & dịch vụ được phân phối thông qua ngành MLM, có 2,5 triệu Nhà Phân Phối đạt Doanh thu 30 tỷ USD.


· Đài loan: Cứ 12 người có 1 người làm trong ngành MLM.


· Malaysia: Có hơn 1 triệu nhà phân phối đạt doanh thu 1tỷ USD.


· Australia: Doanh thu từ MLM đạt 1,5 tỷ USD.


· Đức, Pháp, Italia: mỗi nước đạt trên 2 tỷ USD.


· Anh: Doanh thu đạt trên 1 tỷ USD.


· Nga: Có trên 100 Cty MLM với hơn 2 triệu nhà phân phối.


· Việt nam: hiện nay có trên 30 Cty MLM và trên 100.000 nhà phân phối. Con số này đang tăng lên từng giờ sau khi luật cạnh tranh chính thức có hiệu lực từ sau ngày 1/7/2005.


· Mỗi ngày trên thế giới có 60.000 người tham gia vào ngành MLM.


· Cứ 100 người là triệu phú trên thế giới thì có đến 40 người xuất phát từ ngành MLM và dự báo trong thế kỷ 21 thì 70% hàng hóa và dịch vụ sẽ được phân phối theo phương thức này.


Làn sóng thứ tư đánh dấu sự bùng nổ của MLM trên toàn cầu. Rất nhiều công ty MLM thành công tại Trung quốc, Hàn quốc, Nhật và “qua mặt” cả các công ty ở Mỹ về tốc độ phát triển. Nửa cuối thập kỷ 90 còn đánh dấu những thay đổi đáng kể trong nhận thức về MLM. Các tập đoàn lớn đua nhau quay ra hợp tác với các mạng lưới phân phối kiểu MLM. Các chuyên viên của các tạp chí có uy tín như Wall Street Journal cũng ra sức khẹn ngợi MLM. Không chỉ có thế, các “đại gia” trong làng doanh nghiệp thế giới còn thi nhau mở các công ty con theo mô hình MLM và hợp tác chiến lược với các công ty MLM. Cuộc chạy đua kiếm tiền bằng MLM đã bắt đầu.


Trong vòng hơn 55 năm qua, trải qua các giai đoạn phát triển, MLM đã thực sự lớn mạnh và trở thành một kênh phân phối hợp pháp và hiệu quả. Nếu như trước kia, nó luôn bị xem như một dạng kinh doanh không chính thức, thậm chí không được thừa nhận; những nhà doanh nghiệp MLM không nghĩ đến việc có thể được xuất hiện trên các tạp chí tài chính hoặc trong các bài phóng sự của Wall Street Journal, được nhắc đến trong các cuộc họp hội đồng quản trị hay tại những cuộc hội nghị khoa học của các trường đại học về kinh doanh thì cùng với làn sóng thứ 4, MLM đã thoát ra khỏi sự cô lập. Ngày nay, vai trò quan trọng của mô hình MLM trong nền kinh tế toàn cầu đã được thừa nhận rộng rãi. Báo chí kinh doanh đưa tin không ngớt về những thành công của lĩnh vực này. Công chúng xem MLM như một giải pháp cho vấn đề việc làm – một vấn đề nóng của xã hội hiện đại. Khác với các doanh nghiệp MLM trước kia, các doanh nghiệp làn sóng thứ 4 đã hòa nhập vào thế giới doanh nghiệp nói chung. Cùng với Thương mại điện tử, MLM đang tạo thành một “làn sóng mới” trong giới kinh doanh ngày nay.

Phụ nữ trong kinh doanh theo mạng

Một trong những ưu thế chính yếu mà phụ nữ thường mang theo vào doanh nghiệp Kinh doanh hệ thống của họ là những kỹ năng ngoại giao và quan hệ xã hội rất tốt. Cơn lốc hiện nay của xu thế " Tiếp thị mối quan hệ " đã khoác một lớp áo mới vào những vũ khí mà phụ nữ luôn sử dụng để xây dựng doanh nghiệp của họ.
Nhiều người tưởng rằng Kinh doanh hệ thống là một doanh nghiệp " bán hàng", nhưng phụ nữ lại biết rõ thật ra bản chất của ngành kinh doanh này chính là chia xẻ và xây dựng những mối quan hệ lâu dài.




Và người phụ nữ thành công thường sử dụng những kỹ năng" chia sẻ và quan tâm " như một công cụ chính trong quá trình tuyển mộ. Kỹ thuật tuyển mộ thường đặc biệt có hiệu quả với những phụ nữ vốn có khả năng phát triển mối quan hệ lâu dài với những người trong cả quan hệ kinh doanh lẫn xã hội của họ.

Các cô làm được điều này bằng cách lắng nghe những quan điểm, đặt câu hỏi, chia sẻ thông tin, và tìm ra mong muốn của những người trong doanh nghiệp của mình và sau đó giúp đỡ họ đạt được điều đó. Điều cốt yếu là KDTM là một doanh nghiệp của con người và truyền thông, trong khi đó, phụ nữ thì lại rất tỏa sáng trong những lĩnh vực này.
Các cô thường sử dụng những phương pháp " mềm mỏng" tiếp thị qua mối quan hệ để tiếp cận những đối tượng có triển vọng sẽ trở thành tân binh trong doanh nghiệp của mình. Đôi khi phương pháp này tuy có vẻ như quá chậm và cần quá nhiều thì giờ cho những ai quan tâm đến chúng. Nhưng đúng như trong câu chuyện ngụ ngôn " Rùa và Thỏ", sự chậm chạp nhưng có phương pháp của rùa lại chiến thắng cuộc đua vượt qua chú Thỏ hiếu chiến và hung hăng. Và trong việc xây dựng một mối quan hệ cũng thế.

Xây dựng những mối quan hệ
Cách phụ nữ Kinh doanh hệ thống thành công xây dựng những mối quan hệ này như thế nào?
Có rất nhiều công cụ truyền thông dựa trên mối quan hệ mà các cô thường sử dụng.
Một trong số đó sẽ là sản phẩm của sản phẩm. Cô kể lại câu chuyện của mình. Cô chia sẻ nó với những người khác. Phụ nữ chia sẻ mọi thứ mọi lúc mọi nơi. Nếu họ xem một bộ phim mà họ thích, họ sẽ kể cho những người khác về nó. Nếu họ khám phá ra một quán ăn thú vị, họ cũng kể cho những người xung quanh nghe. Nếu họ khám phá được một sản phẩm yêu thích, họ cũng sẽ kể những người khác. Rất đơn giản, và cứ thế cũng cách theo đó họ tiếp tục theo đuổi công việc.
Mỗi khi cô chia sẻ một sản phẩm với người nào đó, cô đã tiếp cận sát được đối tượng tiềm năng. Cô biết rằng nếu cô ngồi đợi ai đó điện thoại cho mình, cô sẽ đến chết vì cô đơn. Cô hiểu rõ rằng cuộc sống con người bị điều khiển bởi quán tính. Cô cũng biết rằng cô phải bước đi trước và gọi cho những người tiềm năng của mình để hỏi người ta có thích thú gì với những sản phẩm hay không.
Một phương thức truyền thông cơ bản khác mà phụ nữ thường sử dụng là phương pháp Mẫu
Những Mẫu này đề cập đến gia đình, sự nghiệp, giải trí và tiền bạc Khi cô bắt đầu kéo người khác vào cuộc trò chuyện, cô không nói về doanh nghiệp của mình ngay, mà sẽ hỏi về:

Gia đình

Khi cô đưa ra những câu hỏi về gia đình, cô hỏi vì bản thân cô thật sự quan tâm. Và để tìm hiểu liệu cô có thích người này đủ để cộng tác trong công việc với anh ta không.
Vì rốt cuộc, nếu anh ta ký tham gia vào doanh nghiệp của họ, cô sẽ bị anh ta cản trở. Cô cũng hỏi những câu hỏi về gia đình để tìm hiểu liệu những người này sẽ có triển vọng là những người dùng sản phẩm của công ty của cô hay không (nếu cô đang bán những thiết bị an toàn công nghệ cao và những người này sống trong một làng quê nhỏ "để cửa không cần khóa ", thì đối tượng này có lẽ không thể là tiềm năng ngay từ đầu). Cô muốn tìm hiểu về những giấc mơ và mục đích của bạn là gì. Bạn có thích nơi bạn sống không?


Bạn muốn chuyển tới nơi nào đó tốt hơn không ? bạn có thích rời khỏi công việc hiện tại của mình và có nhiều thời gian dành cho gia đình hơn hoặc ở nhà với các con của bạn?
Nghề nghiệp: anh làm việc ở đâu?
(chẳng hạn, nếu người nay là một phi công máy bay, anh ta có thể sẽ không quan tâm đến việc nhận chiết khấu cho các tour du lịch) bạn có thích công việc của mình hay không?
Điều gì bạn thật sự thích làm, nếu bạn có thể?
Những hoạt động Giải trí: bạn làm gì để tìm niềm vui?
Bạn có thường vui vẻ như bạn mong muốn hay không?
Nếu không, là vì thiếu thời gian, hoặc thiếu tiền, hay cả hai?
Nếu thời gian và tiền không phải là những nhân tố giới hạn, bạn thật sự thích làm gì?

Tiề
n

Bạn có kiếm được nhiều tiền như bạn muốn không? Bạn có phải làm ngoài giờ để kiếm thêm không? Bạn muốn làm thêm bao nhiêu để kiếm tiền?
Có bao giờ bạn từng nghĩ đến việc khởi sự một doanh nghiệp tại nhà?
Và tại sao những phụ nữ lại hỏi câu hỏi này? Vâng, bởi vì các cô là phụ nữ và tất cả những điều đó đều tự nhiên đối với cô. Cô tìm ra được nhiều điều rõ ràng về những người mà cô đang nói chuyện. Cô có những người bạn mới.
Cô biết người ta thường thích những người nào thật sự quan tâm đến họ
Và khi những người phụ nữ có được những trả lời cho những câu hỏi này thì các cô biết chính xác cần nói gì khi những người đó hỏi về doanh nghiệp của cô
Nói cách khác, cô biết chính xác làm thế nào để giới thiệu doanh nghiệp của mình sao cho nó sẽ trở nên lý thú cho người nghe và thích hợp với những nhu cầu của họ. Cô không phải lo lắng về việc khi nào nên bắt đầu nói về doanh nghiệp của mình. Vì người ta sẽ hỏi cô " Được rồi, nào, hãy kể cho tôi về chính bạn đi! Bạn làm nghề gì? " Điều cốt yếu là nếu cô đã thật sự tạo ra được sự kết nối, những người này sẽ tự khắc muốn biết về cô.
Và vì họ bây giờ là bạn, những người kia sẽ lắng nghe những gì mà cô cần phải nói. Và dù ngay cả khi người nghe thật sự không phải tán thành ngay với doanh nghiệp của cô, ít nhất cô cũng đã có được một người bạn mới, người mà có thể về sau sẽ quan tâm đến doanh nghiệp của cô.


Tập trung vào quan điểm của những đối tượng tiềm năng
Phụ nữ có xu hướng tập trung hơn vào quan điểm của những đối tượng tiềm năng
Cô nói về những lợi ích của doanh nghiệp và thu hút được sự phản hồi từ những đối tượng tiềm năng của mình. Cô không để cho mong muốn và nhu cầu riêng của mình lộ ra trong cách làm việc. Cô không sử dụng những kỹ thuật bán hàng và kết thúc bằng bán hàng. Cô để cho đối tượng tiềm năng tự quyết định. Cô biết rằng cô thật sự không thể "kêu gọi" ai đó tham gia vào doanh nghiệp này. Những người đang tìm hiểu sẽ phải tự họ quyết định

Tạo cuộc tiếp xúc với kinh doanh theo mạng 

Những phụ nữ đã luôn luôn là những nhà Kinh doanh hệ thống hoàn hảo. Chính là nhờ kỹ năng mà họ sử dụng hàng ngày. Các cô chia sẻ thông tin và những thông tin cần đề cập tại những tổ chức kinh doanh theo mạng tại địa phương hoặc tại Câu lạc bộ những thủ lĩnh, những tổ chức xã hội, những tổ chức tôn giáo, vân vân. Khi cô khởi động doanh nghiệp của mình, cô có thể chỉ cần nỗ lực tập trung vào trong mạng lưới và thốt thành lời những gì mình đang làm.
Nói cho cùng thì người ta ai cũng thích kinh doanh với những người họ đã biết, thích và tin cậy.

Có phải tất cả phụ nữ đều làm kinh doanh theo mạng theo cách này không ?
Tất nhiên là không! Không có hai người nào lại từng xây dựng doanh nghiệp của họ theo cách hoàn toàn giống nhau. Nhưng những phương pháp kể trên tận dụng rất nhiều lợi thế bẩm sinh vốn có của người phụ nữ.
Tuyển mộ thông qua những mối quan hệ thì không phải là cách nhanh nhất để xây dựng một doanh nghiệp, và vài người cảm thấy thoải mái hơn với kỹ thuật nhắm đến mục đích bán hàng truyền thống để tập trung vào mức tăng trưởng nhanh chóng hơn. Nhưng theo như nhiều phụ nữ Kinh doanh hệ thống thành công ( và giờ đây có cả nhiều nam giới thành công) đã tìm hiểu ra rằng, xây dựng một doanh nghiệp thông qua những mối quan hệ sẽ rất hiệu quả để xây dựng một doanh nghiệp bền vững.

 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google Thủ thuật, hacking, tool, code, công cụ